Ngày xuất bản: 2026-06-27
Số báo đầy đủ
Văn hóa - Thể thao - Du lịch
Giao thoa văn hoá Việt - Trung qua nghi lễ vòng đời: Mô hình tiếp biến nghi thức sinh - tử - hôn nhân giữa Thọ mai gia lễ và Lễ ký
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.1041
Tóm tắt
|
PDF (475.7K)
Tóm tắt
Quá trình tiếp biến văn hoá từ Lễ Ký đến Thọ Mai gia lễ là một minh chứng rõ nét cho thấy sức sống mãnh liệt của yếu tố nội sinh trong văn hóa Việt. Dù chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hán học, nhưng người Việt không bao giờ tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự chọn lọc, cải biến để tạo ra những giá trị mới vừa mang tính phổ quát của Nho giáo, vừa thấm đẫm tinh thần bản địa. Bài nghiên cứu khảo sát quá trình tiếp biến văn hóa Việt – Trung thông qua hệ thống nghi lễ vòng đời trong hai văn bản kinh điển: Lễ Ký của Trung Quốc và Thọ Mai gia lễ của Việt Nam. Dựa trên phương pháp phân tích văn bản học so sánh, nghiên cứu đề xuất mô hình tiếp biến ba tầng gồm: tiếp nhận, điều chỉnh và tái tạo, qua đó chỉ ra cơ chế tiếp nhận có chọn lọc của người Việt đối với các yếu tố Nho giáo. Kết quả phân tích cho thấy cấu trúc nghi lễ Việt Nam tuy chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Nho giáo nhưng đã được bản địa hóa mạnh mẽ thông qua việc kết hợp với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Phật giáo và văn hóa làng xã. Những biến đổi này tạo nên những hình thái nghi lễ độc đáo như lễ đầy cữ, lễ lại mặt, chu kỳ cúng 49 ngày và nghi thức cải táng – những yếu tố không hiện diện trong Lễ Ký. Nghiên cứu góp phần cung cấp một khung lý thuyết mới trong việc giải thích quá trình tiếp biến nghi lễ vòng đời ở Việt Nam, đồng thời gợi mở hướng so sánh mở rộng sang các cộng đồng Đông Á khác.
Giáo dục
Ảnh hưởng của bạo lực ngôn từ đến sự tự tin của học sinh một số trường Trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.1017
Tóm tắt
|
PDF (495.4K)
Tóm tắt
Bài báo được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng ảnh hưởng của bạo lực ngôn từ đến sự tự tin của học sinh một số trường trung học phổ thông (THPT) tại thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập từ khảo sát trực tiếp bằng bảng hỏi với 221 học sinh từ ba trường THPT và phương pháp phỏng vấn sâu đối với 10 học sinh. Kiểm định T-test và ANOVA được sử dụng đánh giá sự khác biệt về thực trạng bạo lực ngôn từ qua các yếu tố giới tính và trường học. Nghiên cứu cũng thực hiện phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính nhằm xác định mối quan hệ giữa bạo lực ngôn từ và sự tự tin của học sinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê giữa mức độ bạo lực ngôn từ và sự suy giảm tự tin, và bạo lực ngôn từ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự tự tin của học sinh trung học phổ thông. Qua đó, nghiên cứu kỳ vọng bổ sung một số cơ sở khoa học về mặt lý luận lẫn thực tiễn cần thiết cho việc xây dựng các chương trình phòng ngừa và hỗ trợ tâm lý phù hợp.
Văn học
Tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê nhìn từ chủ thể liên văn hóa
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.1075
Tóm tắt
|
PDF (522.2K)
Tóm tắt
Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) là học giả có nhiều đóng góp cho tiến trình lịch sử văn hóa dân tộc. Tác phẩm của ông trải rộng trên nhiều lĩnh vực như văn học, lịch sử, triết học, văn hóa, giáo dục… Bài viết tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê từ lý thuyết liên văn hóa trong bối cảnh miền Nam năm 1954-1975. Thay vì chỉ nhìn nhận ông như một nhà văn thuần túy, nghiên cứu này định vị Nguyễn Hiến Lê trong tư cách chủ thể sáng tạo có sự kết hợp và dung hòa giữa hai hệ hình tư tưởng: truyền thống Nho học phương Đông và tư duy khoa học hiện đại phương Tây. Bằng việc phân tích văn bản, bài viết chỉ ra những biểu hiện của chủ thể liên văn hóa trong tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê: từ việc lựa chọn mô hình tư duy đến cách thức phổ biến tri thức và văn hóa đến các tầng lớp công chúng trong xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy tinh thần đối thoại liên văn hóa trong tác phẩm của Nguyễn Hiến Lê, đồng thời cũng cho thấy tiềm năng của hướng tiếp cận văn học nghệ thuật từ nhãn quan liên văn hóa.
Nguyễn Văn Trung và tư tưởng giải thực dân hóa
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.976
Tóm tắt
|
PDF (495.2K)
Tóm tắt
Nguyễn Văn Trung là một trong những nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà phê bình triết học, văn học nổi bật, đặc biệt trong giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam. Nhằm đánh giá những đóng góp của ông trong việc định hình tư tưởng giải thực dân hóa, bài báo hướng tới phân tích những biểu hiện tư tưởng giải thực của Nguyễn Văn Trung như: giới thiệu sớm công trình mang tính phê phán thực dân Les Damnés de la Terre của Frantz Fanon; vận dụng tư tưởng Fanon và các lý thuyết đương đại để biên soạn công trình Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam: thực chất và huyền thoại. Nghiên cứu cho thấy thông qua những khảo sát, đánh giá cái nhìn của người Pháp về người An Nam, Nguyễn Văn Trung đã phát hiện những mâu thuẫn giữa thực chất và huyền thoại mà người Pháp đã xây dựng, đồng thời thực hành nghiên cứu di sản văn hóa, văn học dân tộc như một cách phục dựng giá trị quá khứ trong bối cảnh mới. Qua đó, bài báo góp phần làm rõ những đóng góp của Nguyễn Văn Trung trong việc khẳng định tính bản địa, ý thức tự chủ đồng thời đề xuất vấn đề giải thực dân về mặt văn hóa và tinh thần nghiên cứu, đối thoại ở người trí thức.
Sự hình thành của phê bình phản hồi - độc giả: Nguyên nhân và bối cảnh
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.971
Tóm tắt
|
PDF (447.1K)
Tóm tắt
Phê bình dựa trên phản hồi của người đọc nổi lên như một trong những xu hướng nổi bật trong nghiên cứu phê bình suốt thế kỷ XX. Để hiểu được vị trí của phê bình dựa trên phản hồi của người đọc, cần phải tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc và các yếu tố góp phần vào sự phát triển của nó. Bài báo hướng tới phân tích các nguyên nhân và nền tảng cơ bản dẫn đến sự ra đời và phát triển của phê bình phản hồi - độc giả (reader-response criticism) trong thế kỷ XX. Dựa trên việc khảo sát và tổng hợp tài liệu, nghiên cứu đã xác định và đi sâu vào ba nhóm nguyên nhân chính bao gồm: những thay đổi trong triết học ngôn ngữ (như hiện tượng học và giải thích học); nỗ lực thay đổi, bổ sung để phản biện sự độc tôn của Phê bình Mới (New Criticism); và sự dịch chuyển trong quan điểm giáo dục sang mô hình lấy người học làm trung tâm và xu hướng dân chủ hóa văn học. Qua đó, bài viết khẳng định phê bình phản hồi - độc giả không chỉ là một lý thuyết học thuật, mà còn là sản phẩm của sự hội tụ giữa những thay đổi lớn trong tư duy triết học, phê bình văn học và bối cảnh xã hội.
Chất sử thi trong Hòn Đất của Anh Đức và Đất Lửa của Nguyễn Quang Sáng
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.1068
Tóm tắt
|
PDF (483.1K)
Tóm tắt
Tiểu thuyết Hòn Đất của Anh Đức và Đất Lửa của Nguyễn Quang Sáng là hai tác phẩm tiêu biểu vận dụng thi pháp sử thi trong văn học cách mạng Việt Nam hiện đại 1945-1975. Trên cơ sở vận dụng phương pháp phân tích văn bản, so sánh văn học kết hợp với tiếp cận liên ngành (thi pháp học, văn hóa - lịch sử), nghiên cứu khảo sát cách thức kiến tạo không gian nghệ thuật, tổ chức xung đột và xây dựng hình tượng mang cảm hứng sử thi nhằm làm sáng tỏ chất sử thi trong hai tiểu thuyết. Kết quả nghiên cứu đã khắc họa hình tượng Đất Nước và Nhân Dân trong hai tác phẩm như những chủ thể lịch sử trung tâm, gắn với quy mô sự kiện lớn lao của cuộc kháng chiến và hình mẫu người anh hùng kết tinh sức mạnh, ý chí, phẩm chất của cộng đồng; đồng thời thể hiện những nét đặc trưng khác biệt giữa bút pháp của hai tác giả: trong khi Anh Đức thiên về lãng mạn, lý tưởng hóa, Nguyễn Quang Sáng lại triển khai chất sử thi trên nền hiện thực gai góc, phản ánh những xung đột tôn giáo - chính trị phức tạp. Qua đó, nghiên cứu góp phần nhận diện diện mạo văn học một thời và là cơ sở để làm sáng tỏ sự vận động của thi pháp sử thi trong văn học cách mạng.
Cái tôi hiện sinh qua mã ký hiệu không gian - thời gian trong thơ Nguyễn Đức Sơn
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.947
Tóm tắt
|
PDF (439K)
Tóm tắt
Bài viết vận dụng lý thuyết ký hiệu học văn học để tiếp cận thơ Nguyễn Đức Sơn nhằm làm rõ cảm thức hiện sinh trong thế giới nghệ thuật của ông. Trọng tâm bài báo đặt vào hai mã ký hiệu chính: mã không gian suy nghiệm và mã thời gian tâm tưởng. Không gian trong thơ Nguyễn Đức Sơn không chỉ phản ánh ngoại giới mà được nội tâm hóa, trở thành nơi biểu đạt trạng thái cô đơn, lưu đày và hoài nghi của cái tôi trữ tình. Thời gian không vận hành theo tuyến tính thông thường mà là dòng ý thức phân mảnh, đồng hiện giữa ký ức, hiện tại và dự cảm. Bằng cách giải mã cấu trúc ký hiệu trong thơ, bài viết khẳng định rằng thơ Nguyễn Đức Sơn là một diễn ngôn bản thể học mang chiều sâu triết lý và thơ ca không chỉ là nghệ thuật ngôn từ mà còn là phương thức nhận thức, tự vấn về tồn tại trong một thế giới đầy bất an và phi lý.
Biểu tượng gương, nước mắt và cánh cửa trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.1054
Tóm tắt
|
PDF (440.2K)
Tóm tắt
Bài viết khảo sát ba biểu tượng tiêu biểu trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng, gồm gương, nước mắt và cánh cửa, nhằm làm rõ vai trò của hệ thống biểu tượng trong việc kiến tạo thế giới nghệ thuật và thể hiện tư tưởng nhân văn của tác phẩm. Trên cơ sở vận dụng hướng tiếp cận thi pháp hình tượng, nghiên cứu đọc lại văn bản trong mối quan hệ giữa hình tượng nghệ thuật và triết lý nhân sinh. Kết quả phân tích cho thấy gương không chỉ phản chiếu hiện thực mà còn biểu trưng cho ranh giới giữa thực và ảo, đồng thời dự báo số phận nhân vật; nước mắt gắn với Lâm Đại Ngọc như một định mệnh “hoàn lệ”, thể hiện bi kịch và ý thức phản kháng của người phụ nữ; và cánh cửa biểu trưng cho sự chuyển hóa và khát vọng tự do. Từ việc giải mã ba biểu tượng này, cho thấy Tào Tuyết Cần đã sử dụng biểu tượng như một phương thức tư duy nghệ thuật đặc sắc để thể hiện chiều sâu triết lý nhân sinh và tinh thần nhân văn trong văn học cổ điển Trung Hoa.
Vấn đề bản ngã và biểu tượng tôn giáo trong tác phẩm Demian: Câu chuyện tuổi trẻ của Emil Sinclair của Hermann Hesse
Bản điện tử:
22 Thg 9 2026
| DOI:
10.58810/vhujs.11.3.2026.958
Tóm tắt
|
PDF (411.9K)
Tóm tắt
Bản ngã là một chủ đề thường xuất hiện trong các tác phẩm văn học phương Tây hiện đại, một trong số đó là Demian: Câu chuyện tuổi trẻ của Emil Sinclair của Hermann Hesse. Bài viết này tập trung khám phá tiến trình hình thành bản ngã của nhân vật Emil Sinclair khi cậu tìm hiểu về tiếng gọi nội tâm và sự phá vỡ những đạo lý truyền thống. Theo đó, Hermann Hesse đã lồng ghép các biểu tượng tôn giáo như thế giới ánh sáng và bóng tối, Abraxas để làm rõ tiến trình phát triển bản ngã của nhân vật Emil Sinclair qua từng giai đoạn trưởng thành về nhận thức. Qua đó, tác phẩm mở rộng suy tư về bản chất con người trong thời hiện đại, khi con người kiếm tìm sự cứu rỗi thông qua sự chấp nhận cái tôi toàn vẹn của chính mình. Trong bối cảnh đó, biểu tượng tôn giáo đóng vai trò song hành với quá trình tìm hiểu và phát triển bản thân của mỗi người.